Thứ Bảy, 17 tháng 12, 2011

Tác Dụng Của Nước Lọc

 Tưởng chừng là một thức uống rất đơn giản và chỉ uống theo thói quen, nhưng ngược lại, nước lọc mang lại rất nhiều lợi ích quan trọng đối với sức khỏe. 

NƯỚC LỌC

1. Giảm cân

Nước có thể dùng để thay thế các loại đồ uống có ga trong thời kì bạn đang giảm cân. Nếu bạn muốn ăn ít hơn, bạn có thể uống một ly nước trước bữa ăn. Ngoài ra, uống nhiều nước còn giúp tăng cường trao đổi chất. Đặc biệt khi bạn uống nước lạnh, cơ thể bạn phải đốt cháy thêm calo để làm ấm nước. Một cách giảm cân rất nhẹ nhàng.
2. Giúp tăng năng lượng
Đừng nghĩ rằng nước không có calo thì không giúp ích gì cho năng lượng của cơ thể, bạn đang sai lầm! Nếu bạn cảm thấy mệt mỏi và kiệt sức, hãy uống nước. Nước giúp vận chuyển oxy trong máu và các chất dinh dưỡng thiết yếu đến các tế bào. Nếu bạn được cung cấp đủ nước, tim của bạn không phải làm việc cực nhọc để cố gắng bơm thật nhiều máu đi khắp cơ thể.
3. Giúp tránh căng thẳng
Có từ 70% đến 80% mô não là nước. Nếu bạn bị mất nước, không những cơ thể bạn mệt mỏi và tâm trí cũng sẽ căng thẳng. Vì thế, giữ một ly nước cạnh bàn làm việc hoặc mang theo một chai nước khi ra ngoài để uống nước thường xuyên. Cách này cũng là biện pháp giúp bạn tránh xa stress.
4. Cơ bắp khỏe mạnh
Uống nước có thể giúp ngăn ngừa chuột rút cơ bắp và giúp bôi trơn các khớp xương trong cơ thể giúp hoạt động dễ dàng và trơn tru hơn. Khi cơ thể bạn nhận đủ nước, bạn có thể tập thể dục lâu hơn và khỏe hơn. Nhờ thế mà sức khỏe hệ cơ tăng lên đáng kể.
NUÔI DƯỠNG LÀN DA
5. Nuôi dưỡng làn da
Nước là loại kem làm đẹp tự nhiên. Các nếp nhăn sẽ sâu hơn, hiện rõ hơn trên khuôn mặt khi cơ thể bạn mất nước. Vì thế, đừng bao giờ để cơ thể rơi vào tình trạng này. Các tế bào da khi nhận đủ nước sẽ làm cho khuôn mặt của bạn trông trẻ hơn. Nước còn giúp loại bỏ các tạp chất và cải thiện lưu thông máu, giúp khuôn mặt hồng hào và sáng rõ.
6. Giúp tiêu hóa tốt
Cùng với chất xơ, nước là điều kiện cần thiết để tiêu hóa tốt. Nước giúp hòa tan các chất và giúp chúng di chuyển trơn tru trong đường tiêu hóa. Nếu bạn mất nước, các chất thải trong hệ tiêu hóa khô hơn và rất khó khăn khi di chuyển.
7. Giảm nguy cơ sỏi thận
Nguy cơ mắc sỏi thận có thể gia tăng bởi vì mọi người không uống đủ nước. Nước giúp làm loãng các muối và khoáng chất trong nước tiểu, tránh được nguy cơ hình thành các tinh thể rắn từ chúng gọi là sỏi thận. Sỏi thận cũng có thể hình thành trong nước tiểu pha loãng, do đó hãy uống thật nhiều nước.
Chú ý: Mỗi ngày cơ thể chúng ta cần ít nhất là 1,5 lít nước hoặc nhiều hơn. Chúng ta không nên uống nhiều 1 lần mà phải chia đều trong ngày, nếu uống quá nhiều nước 1 lần sẽ làm tổn thương đến thận. Chúc các bạn khỏe!

Thứ Ba, 22 tháng 11, 2011

Ung thư vú

Ung thư vú là loại ung thư thường gặp nhất và gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ nhiều nước công nghiệp. Theo Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Thế giới (IARC) vào năm 1998 thì ung thư vú đứng đầu, chiếm 21% trong tổng số các loại ung thư ở phụ nữ trên toàn thế giới. Cũng theo IARC, xuất độ chuẩn hóa theo tuổi của ung thư vú ở phụ nữ là 92,04 (trên 100 000 dân) ở châu Âu và 67,48 (trên 100 000 dân) trên toàn thế giới vào năm 1998, đều là cao nhất trong các loại ung thư ở nữ giới.5
Ung thư vú đang trở nên phổ biến tại các nước đang phát triển. Tại Việt Nam, năm 1998, ở nữ giới, ung thư vú là loại ung thư có tần suất cao nhất ở Hà Nội với xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 20,3 (trên 100 000 dân) và cao thứ hai ở Thành phố Hồ Chí Minh với xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 16 (trên 100 000 dân) sau ung thư cổ tử cung mà xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 28,6 (trên 100 000 dân). 6

Tem cổ động cho chiến dịch chống ung thu vú
Đây là một bệnh hết sức phức tạp mà trong nhiều năm qua đã có nhiều nghiên cứu về nguyên nhân, bệnh sinhđiều trị. Một điều quan trọng cần phải nhận thấy là việc phát hiện sớm ung thư vú qua sự tầm soát ở những phụ nữ bình thường đã làm thay đổi rõ ràng bệnh sử tự nhiên của bệnh cũng như cải thiện đáng kể tiên lượng bệnh.

Các yếu tố nguy cơ

Nguyên nhân của ung thư vú chưa được biết rõ, nhưng với những nghiên cứu dịch tễ học cùng với những hiểu biết sâu hơn về sinh học của tế bào tuyến vú đã mang lại những cơ sở mới cho bệnh này.
Theo UICC thì tỷ lệ ung thư vú ở đàn ông ít hơn 100 lần so với phụ nữ. 3. Còn theo 1 thì nguy cơ tương đối của ung thư vú giữa phụ nữ và nam giới là 150. Nghĩa là ung thư vúnam giới ít gặp hơn nữ giới rất nhiều lần.
Dưới đây chỉ nói về những yếu tố nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ.
Người ta nhận thấy nguy cơ bị ung thư vú tăng lên ở những bệnh nhân sau: 1
Các yếu tố nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ
Yếu tố Nguy cơ thấp Nguy cơ cao
Tuổi 30–34 70–74
Lần đầu có kinh >14 <12
Thuốc tránh thai Không dùng Có dùng
Tuổi có con lần đầu <20 ≥30
Thời gian cho con bú ≥16 0
Số lần sinh con ≥5 0
Tuổi khi cắt buồng trứng <35 Không cắt
Tuổi mãn kinh <45 ≥55
Dùng estrogen thay thế Không dùng Đang dùng
BMI cơ thể sau mãn kinh <22,9 >30,7
Tiền sử gia đình có người bị K vú Không
Nồng độ estradiol trong máu Thấp Cao
Ngoài ra, nguy cơ ung thư vú cũng gặp ở những nhóm người sau:
  • Bệnh nhân sống ở các quốc gia vùng Bắc MỹBắc Âu
  • Có tiền sử phơi nhiễm bức xạ ion hóa
  • Những phụ nữ không có con. Người ta cho rằng cho con bú kéo dài trên 6 tháng có tác dụng bảo vệ chống ung thư vú ở các phụ nữ trẻ. 1
  • Uống rượu, tiếp xúc với thuốc trừ sâu (đặc biệt là DDT).

Sinh học ung thư vú

Yếu tố gia đình từ lâu đã được công nhận là có liên quan đến ung thư vú, tuy nhiên yếu tố này chỉ quan trọng trong khoảng 10–15% các trường hợp ung thư vú. Yếu tố gia đình gợi ý có một số gene quy định tính nhạy cảm của cá thể đó với bệnh này, và những nghiên cứu về gene đã ghi nhận một vùng của nhiễm sắc thể 17 (mang gene BRCA1 và BRCA2) có liên quan đến việc xuất hiện sớm ung thu vú trong một số gia đình. Hội chứng Li-Fraumeni, với đột biến của gene p53 cũng được ghi nhận ở những bệnh nhân bị ung thư vú sớm. 2
Nội tiết tố sinh dục ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư vú. Người ta nhận thấy estrogen đẩy mạnh ung thư vú ở chuột trong thí nghiệm, và trên mẫu nuôi cấy các tế bào ung thư vú thì estrogen kích thích các tế bào này tăng trưởng.
Ngày nay, người ta biết tác dụng của nội tiết tố sinh dục lên mô vú một phần là qua trung gian các yếu tố tăng trưởng. Một số yếu tố tăng trưởng đã được xác định có thể là nguyên nhân gây ra những biến đổi mô vú bình thường thành ác tính và kéo dài quá trình ung thư hóa. Ngoài ra, estrogen còn gây tăng tiết prolactin – cũng là một loại hormone gây phát triển tuyến vú. 1
Thụ thể của mô tuyến vú với estrogen và progesteron và một số yếu tố tăng trưởng cũng đã được nhận dạng. Trong đó thụ thể với estrogen và progesteron rất có giá trị trong việc đánh giá tiên lượng bệnh nhân, chọn lựa phương pháp điều trị.
Người ta nhận thấy có khoảng 2/3 các bệnh nhân có thụ thể với estrogen dương tính, và ½ số đó có đáp ứng khi điều trị bằng nội tiết tố ở chỗ kích thước khối bướu thu nhỏ. 3

Chẩn đoán ung thư vú

Các tình huống lâm sàng

Thường gặp

Đa phần ung thư vú được phát hiện là do chính người bệnh, khi họ ghi nhận thấy một sự thay đổi ở tuyến vú. Thường gặp nhất đó là một khối bướu hay một chỗ dày cứng lên không đau ở vú. Hoặc cũng có thể do thầy thuốc phát hiện qua một lần khám sức khỏe thường kỳ.
Cần phải nghi ngờ ung thư vú khi thấy bất kỳ bướu nào ở vú ở người phụ nữ trên 30 tuổi cho đến khi có triệu chứng chính xác ngược lại mặc dù khoảng 80% khối bất thường ở vú là lành tính. 2
Những tính chất sau của khối bướu gợi ý ác tính:
  • Cứng
  • Không đau (chiếm khoảng 85–90%)
  • Không đồng nhất, bờ không rõ
  • Dính vào thành ngực hoặc da trên vú, khó di động
  • Núm vú bị co kéo
  • Chảy máu

Những thay đổi thấy được ở vú gợi ý ác tính

Tình huống trễ

Bệnh nhân đến khám với các triệu chứng của ung thư tiến triển hoặc đã có di căn xa:
  • Hạch nách hoặc hạch trên đòn dương tính
  • Tràn dịch màng phổi, làm bệnh nhân đau ngực, khó thở
  • Tràn dịch màng ngoài tim, bệnh nhân khó thở, suy hô hấp...
  • Gãy xương, khi ung thư đã di căn vào xương
  • Bụng: gan to, [báng bụng], ...
  • Di căn lên não: khối u xuất hiện trong não làm bệnh nhân đau đầu, hôn mê; chèn ép cột sống làm bệnh nhân đau lưng, yếu liệt tay chân...


 Tầm soát ung thư vú

Điều này đã được làm ở các nước phát triển và đang bắt đầu được áp dụng ở Việt Nam. Các phương pháp sau đây được áp dụng trong chương trình tầm soát ung thư vú:
  • Khám lâm sàng tuyến vú: Các phụ nữ trên 40 tuổi cần được khám vú mỗi năm. Cần đảm bảo cho toàn bộ tuyến vú được khám xét kể cả phần đuôi của tuyến ở gần nách. Trong quá trình khám, người bác sỹ nên hướng dẫn cách tự khám vú cho bệnh nhân. Theo UICC khám lâm sàng tuyến vú có thể chấp nhận được để thay thế nhũ ảnh ở các quốc gia không có phương tiện để thực hiện nhũ ảnh.
  • Tự khám vú: Ít tốn kém. Nếu được thực hiện đúng cách có thể giúp người bệnh phát hiện sớm một bướu vú, được điều trị sớm và vì vậy tiên lượng tốt hơn.

Hình ảnh nhũ ảnh của một tuyến vú bình thường (bên trái) và một khối u ác tính ở vú (bên phải)
  • Nhũ ảnh: Là một phương pháp chụp X quang vú đặc biệt. Dùng một lượng ít tia X, để cho hình ảnh chi tiết của tuyến vú, có thể thấy những điểm vôi hóa rất nhỏ. Nhũ ảnh đóng vai trò quan trọng trong tầm soát ung thư vú. Nhiều nghiên cứu cho thấy tầm soát bằng nhũ ảnh giúp giảm tử suất của ung thư vú khoảng 30%. Vì vậy Viện Ung thư quốc gia Hoa KỳHội Ung thư Hoa Kỳ đề xuất nên chụp nhũ ảnh mỗi 1-2 năm cho những phụ nữ trên 40 tuổi.

Xét nghiệm cận lâm sàng

  1. Chọc hút bằng kim nhỏ (FNA – Fine Needle Aspiration): dùng một kim hút nhỏ lấy một mẫu bệnh phẩm và dùng để làm xét nghiệm tế bào học. Xét nghiệm này có thể cho biết tế bào lấy ra có đặc trưng cho ung thư hay không, nhưng không thể phân biệt ung thư tại chỗ hay ung thư xâm lấn được. Âm tính giả có thể xảy ra khi thật sự là ung thư mà mũi kim không chạm bướu.
  2. Sinh thiết trọn khối bướu: thực hiện khi chọc hút không cho chẩn đoán xác định. Tuy nhiên, ngày nay việc sinh thiết trọn khối bướu ít được thực hiện dần đi vì chọc hút bằng kim nhỏ ngày càng cho thấy tính chính xác cao.
  3. Chụp nhũ ảnh
  4. Siêu âm tuyến vú: là một xét nghiệm rẻ tiền, đơn giản. Siêu âm giúp phân biệt rõ một tổn thương dạng nang với một tổn thương dạng đặc. Ngoài ra, với siêu âm người phụ nữ không có nguy cơ nhiễm tia X, thích hợp cho phụ nữ có thai và phụ nữ trẻ. 2
  5. Còn có nhiều phương tiện chẩn đoán hình ảnh khác được sử dụng trong chẩn đoán ung thư vú, nhưng ở Việt Nam ít dùng như cắt lớp điện toán CT scan, chụp cộng hưởng từ MRI, ...
  6. Những xét nghiệm giúp đánh giá đáp ứng điều trị: Tìm thụ thể với estrogen, đo nồng độ estradiol tự do trong máu,... Những xét nghiệm này ít được làm ở điều kiện Việt Nam.

Thứ Hai, 21 tháng 11, 2011

Nhiều nguy cơ mắc bệnh tim mạch

Đối diện với bệnh của dân văn phòng

Bệnh mạch vành, mạch não là nguyên nhân chính gây nên các căn bệnh về tai biến mạch máu não và các bệnh tim mạch đang phổ biến trên thế giới hiện nay. Ở nước ta số người mắc các bệnh về đường tim mạch đang có chiều hướng gia tăng, kể cả những nhóm dân cư trẻ.

Nguồn gốc chung của nhóm bệnh về đường tim mạch là do bệnh lý của hệ mạch vành và hệ mạch não. 90% bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim là do xơ vữa động mạch gây tổn thương động mạch vành. Xơ vữa động mạch là nguyên nhân chính làm gia tăng 60-70% trường hợp bệnh nhân bị tai biến mạch máu não.

Gia tăng bệnh nhân bị bệnh tim mạch

nước ta, trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội thì nhu cầu về cuộc sống cũng tăng cao. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam cũng tăng lên 70-73 tuổi. Đáng buồn, một số nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy, số lượng bệnh nhân nhồi máu cơ tim cũng ngày càng gia tăng.

Số lượng bệnh nhân bị tai biến mạch máu não và bệnh mạch vành hàng năm tại Bệnh viện T.Ư Huế tăng rất nhanh. Năm 2003 bệnh viện tiếp nhận 150 bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành, năm 2004 tăng lên 397 bệnh nhân và năm 2005 là 420 người. Theo báo cáo của Viện Tim TP. Hồ Chí Minh, năm 2002 Viện chỉ tiếp nhận 30 ca nhồi máu cơ tim, nhưng trong năm 2003 con số này là 119 ca, đặc biệt một số bệnh nhân nhập viện điều trị đang còn rất trẻ, từ 22 - 33 tuổi.

Qua điều tra dịch tễ học, những năm vừa qua (1989-1994) ở hầu hết các tỉnh thành như: Hà Nội, Huế, Thanh Hoá, TP.Hồ Chí Minh… cho thấy số tai biến hàng năm tăng từ 1,5 - 2,5 lần. Tại Thừa Thiên - Huế, tỷ lệ người mắc các bệnh về đường tim mạch năm 1989 là 29,89/100.000 dân thì đến năm 1993 có 106,8/100.000 dân, tăng gấp 3,5 lần so với trước đó. Tại Quảng Nam năm 2004 có 254 bệnh nhân, năm 2005 tăng lên 382 bệnh nhân và chỉ trong 9 tháng đầu năm 2006 số bệnh nhân bị bệnh này lên đến 374 bệnh nhân.

Tăng cường dự phòng bệnh
các nước phát triển, nguyên nhân gây tử vong ở người lớn tuổi do nhồi máu cơ tim chiếm 2% tổng số người chết vì bệnh tật hàng năm. Theo Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ mới mắc bệnh tai biến mạch máu não là 150 - 250/100.000 dân và tỷ lệ hiện mắc là 500 - 700/100.000 dân.

Một kết quả nghiên cứu, dự báo nguy cơ mắc bệnh mạch vành, mạch não ở tỉnh Quảng Nam cho thấy: Trong 10 năm tới nếu không có kế hoạch dự phòng tốt thì có hơn 45% người trong độ tuổi 30 - 74 (chiếm 18,86% dân số cả nước) có nguy cơ mắc bệnh mạch vành. Hơn 11% người khác trong độ tuổi từ 30-74 (chiếm 4,86% dân số cả nước) có nguy cơ mắc bệnh mạch não cần được quản lý và điều trị gấp. Đây quả là con số báo động, một thách thức lớn đối với xã hội mà chúng ta cần phải can thiệp bằng nhiều giải pháp, đặc biệt là sự vào cuộc của từng cá nhân.

Nguyên nhân chính có thể gây nên các bệnh mạch vành, mạch não chính là do tình trạng thừa cân, béo phì, cholesterol máu, huyết áp cao, tình trạng hút thuốc lá… Để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh người dân cũng cần cân bằng chế độ ăn uống hợp lý, một lối sống khoẻ mạnh.

Đồng thời cần khám sức khoẻ định kỳ để phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ nếu có để dự phòng, điều trị có hiệu quả. Khi có yếu tố nguy cơ mắc bệnh nên đến các cơ sở y tế khám và tư vấn về các biện pháp dự phòng hoặc điều trị. Người mắc bệnh cần tuân thủ tuyệt đối theo chỉ dẫn của bác sĩ về việc ăn uống, sinh hoạt, rèn luyện cơ thể. Hưởng ứng tích cực chương trình tự chăm sóc sức khoẻ, trong đó ưu tiên việc tập thể dục đều đặn và thực hiện chế độ ăn uống hợp lý, nói không với tất cả các chất kích thích gây hại như bia, rượu, thuốc lá… chính là một phương pháp dự phòng có hiệu quả đối với các căn bệnh về đường tim mạch.

Ths. Nguyễn Thị Liên - (Dân Việt)
Đái tháo đường

Đái tháo đường, còn gọi là Bệnh tiểu đường hay Bệnh dư đường, là một nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa cacbohydrat khi hoóc môn insulin của tụy bị thiếu hay giảm tác động trong cơ thể, biểu hiện bằng mức đường trong máu luôn cao; trong giai đoạn mới phát thường làm bệnh nhân đi tiểu nhiều, tiểu ban đêm và do đó làm khát nước. Bệnh tiểu đường là một trong những nguyên nhân chính của nhiều bệnh hiểm nghèo, điển hình là bệnh tim mạch vành, tai biến mạch máu não, mù mắt, suy thận, liệt dương, hoại thư, v.v.

Anh khoảng 1,6 triệu người bị ĐTĐ[2]. Tại Hoa Kỳ, số người bị ĐTĐ tăng từ 5,3% năm 1997 lên 6,5% năm 2003 và tiếp tục tăng rất nhanh. Người tuổi trên 65 bị ĐTĐ gấp hai lần người tuổi 45–54[3].
Tại Việt Nam, trong 4 thành phố lớn Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, tỷ lệ bệnh tiểu đường là 4%, riêng quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) lên tới 7%. Phần lớn người bệnh phát hiện và điều trị muộn, hệ thống dự phòng, phát hiện bệnh sớm nhưng chưa hoàn thiện. Vì vậy, mỗi năm có trên 70% bệnh nhân không được phát hiện và điều trị. Tỷ lệ mang bệnh tiểu đường ở lứa tuổi 30-64 là 2,7%, vùng đồng bằng, ven biển. Hiện trên thế giới ước lượng có hơn 190 triệu người mắc bệnh tiểu đường và số này tiếp tục tăng lên. Ước tính đến năm 2010, trên thế giới có 221 triệu người mắc bệnh tiểu đường. Năm 2025 sẽ lên tới 330 triệu người (gần 6% dân số toàn cầu). Tỷ lệ bệnh tăng lên ở các nước phát triển là 42%, nhưng ở các nước đang phát triển (như Việt Nam) sẽ là 170%[4].
Phân loại
Bệnh tiểu đường có hai thể bệnh chính: Bệnh tiểu đường loại 1 do tụy tạng không tiết insulin, và loại 2 do tiết giảm insulin và đề kháng insulin.
Loại 1 (Typ 1)
Khoảng 5-10% tổng số bệnh nhân Bệnh tiểu đường thuộc loại 1, phần lớn xảy ra ở trẻ em và người trẻ tuổi (<20T). Các triệu chứng thường khởi phát đột ngột và tiến triển nhanh nếu không điều trị. Giai đoạn toàn phát có tình trạng thiếu insulin tuyệt đối gây tăng đường huyết và nhiễm Ceton.
Những triệu chứng điển hình của Bệnh tiểu đường loại 1 là : ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, gầy nhiều (4 nhiều ), mờ mắt, dị cảm và sụt cân, trẻ em chậm phát triển và dễ bị nhiễm trùng.
Loại 2 (Typ 2)
Bệnh tiểu đường loại 2 chiếm khoảng 90-95% trong tổng số bệnh nhân bệnh tiểu đường, thường gặp ở lứa tuổi trên 40, nhưng gần đây xuất hiện ngày càng nhiều ở lứa tuổi 30, thậm chí cả lứa tuổi thanh thiếu niên. Bệnh nhân thường ít có triệu chứng và thường chỉ được phát hiện bởi các triệu chứng của biến chứng, hoặc chỉ được phát hiện tình cờ khi đi xét nghiệm máu trước khi mổ hoặc khi có biến chứng như nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não; khi bị nhiễm trùng da kéo dài; bệnh nhân nữ hay bị ngứa vùng do nhiễm nấm âm hộ; bệnh nhân nam bị liệt dương.
Bệnh tiểu đường do thai nghén
Tỷ lệ bệnh tiểu đường trong thai kỳ chiếm 3-5% số thai nghén; phát hiện lần đầu tiên trong thai kỳ.

Triệu chứng
Các triệu chứng thường thấy là tiểu nhiều, ăn nhiều, uống nhiều, sụt cân nhanh là các triệu chứng thấy ở cả hai loại.
Lượng nước tiểu thường từ 3-4 lít hoặc hơn trong 24 giờ, nước trong, khi khô thường để lại vết bẩn hoặc mãng trắng.
Tiểu dầm ban đêm do đa niệu có thể là dấu hiệu khởi phát của đái tháo đường ở trẻ nhỏ.
Với bệnh nhân đái tháo đường loại 2 thường không có bất kỳ triệu chứng nào ở giai đoạn đầu và vì vậy bệnh thường chẩn đoán muộn khoảng 7-10 năm (chỉ có cách kiểm tra đường máu cho phép chẩn đoán được ở giai đoạn này).
Chẩn đoán
Chẩn đoán ĐTĐ bằng định lượng đường máu huyết tương:
ĐTĐ: đường máu lúc đói ≥ 126mg/dl (≥ 7 mmol/l) thử ít nhất 2 lần liên tiếp.
Đường máu sau ăn hoặc bất kỳ ≥ 200mg/dl (≥ 11,1 mmol/l).
Người có mức đường máu lúc đói từ 5,6-6,9 mmol/l được gọi là những người có "rối loạn dung nạp đường khi đói". Những người này tuy chưa được xếp vào nhóm bệnh nhân ĐTĐ, nhưng cũng không được coi là "bình thường" vì theo thời gian, rất nhiều người người "rối loạn dung nạp đường khi đói" sẽ tiến triển thành ĐTĐ thực sự nếu không có lối sống tốt. Mặt khác, người ta cũng ghi nhận rằng những người có "rối loạn dung nạp đường khi đói" bị gia tăng khả năng mắc các bệnh về tim mạch, đột quị hơn những người có mức đường máu < 5,5 mmol/l.
Đôi khi các bác sỹ muốn chẩn đoán sớm bệnh ĐTĐ hơn nữa bằng cách cho uống đường glucose làm bộc lộ những trường hợp ĐTĐ nhẹ mà thử máu theo cách thông thường không đủ tin cậy để chẩn đoán. Cách đó gọi là "test dung nạp glucose bằng đường uống".
Test này được thực hiện như sau:
Điều kiện: ăn 3 ngày liền đủ lượng carbonhydrat (> 200g/ngày), không dùng thuốc làm tăng đường máu, đường máu lúc đói bình thường, không bị stress.
Thực hiện: nhịn đói 12 giờ, uống 75 gam đường glucose trong 250ml nước (không nóng - không lạnh). Định lượng đường máu sau 2 giờ.
Đọc kết quả: ‘Test dung nạp glucose đường uống’:
Nếu đường máu 2 giờ sau uống đường glucose ≥11,1mmol/l: chẩn đoán ĐTĐ; nếu đường máu 2 giờ sau uống đường glucose ≥7,8 mmol/l nhưng < 11,1 mmol/l: những người này được xếp loại giảm dung nạp đường glucose. Người mắc giảm dung nạp đường glucose không những có nguy cơ cao tiến triển thành ĐTĐ sau này, mà còn tăng nguy cơ mắc các bệnh tim-mạch như tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não.
Định lượng đường niệu: chỉ có giá trị rất hãn hữu trong việc theo dõi đối với bản thân bệnh nhân ngoại trú. Không dùng để chẩn đoán bệnh.
Các xét nghiệm bổ sung: sau khi được chẩn đoán xác định và làm những xét nghiệm theo dõi thường kỳ (1-2lần/năm) để thăm dò các biến chứng mạn tính và để theo dõi điều trị:
Khám lâm sàng: lưu ý kiểm tra cân nặng, huyết áp, bắt mạch ngoại biên và so sánh nhiệt độ da, khám bàn chân, khám thần kinh bao gồm thăm dò cảm giác sâu bằng âm thoa. Khám mắt: phát hiện và đánh giá tiến triển bệnh lý võng mạc.
Xét nghiệm: đặc biệt lưu ý creatinin, mỡ máu, microalbumin niệu (bình thường < 30 mg/ngày) hoặc định lượng protein niệu. Đo điện tim nhằm phát hiện sớm các biểu hiện thiếu máu cơ tim. Soi đáy mắt..
Định lượng HbA1 hoặc HbA1c: đánh giá hồi cứu tình trạng đường máu 2-3 tháng gần đây. Đường máu cân bằng tốt nếu HbA1c < 6,5%.
Trong một số tình huống (không phải là xét nghiệm thường qui):
Fructosamin: cho biết đường máu trung bình 2 tuần gần đây, có nhiều lợi ích trong trường hợp người mắc ĐTĐ đang mang thai. Nếu đường máu cân bằng tốt, kết quả < 285 mmol/l.
Peptid C (một phần của pro-insulin): cho phép đánh giá chức năng tế bào bêta tụy.
Điều trị
Lối sống và thái độ ăn uống
Chế độ ăn tốt cho bất kỳ người ĐTĐ cũng cần thoả mãn các yếu tố cơ bản sau:
  • Đủ chất Đạm - Béo - Bột - Đường - Vitamin - Muối khoáng - Nước với khối lượng hợp lý.
  • Không làm tăng đường máu nhiều sau ăn.
  • Không làm hạ đường máu lúc xa bữa ăn.
  • Duy trì được hoạt động thể lực bình thường hàng ngày.
  • Duy trì được cân nặng ở mức cân nặng lý tưởng hoặc giảm cân đến mức hợp lý.
  • Không làm tăng các yếu tố nguy cơ như rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp, suy thận ...
  • Phù hợp tập quán ăn uống của địa dư, dân tộc của bản thân và gia đình.
  • Đơn giản và không quá đắt tiền.
  • Không nên thay đổi quá nhanh và nhiều cơ cấu cũng như là khối lượng của các bữa ăn.
Thuốc điều trị
Insulin (dùng cho dạng typ1)
Căn cứ vào tác dụng, giới chuyên môn chia ra 03 nhóm:
  • Insulin tác dụng nhanh: gồm Insulin hydrochlorid, nhũ dịch Insulin-kẽm
  • Insulin tác dụng trung bình: Isophan Insulin, Lente Insulin
  • Insulin tác dụng chậm: Insulin Protamin kẽm, Insulin kẽm tác dụng chậm
Insulin được chỉ định dùng cho bệnh nhân đái tháo đường thuộc Typ1, nó chỉ dùng cho bệnh nhân đái tháo đường typ2 khi đã thay đổi chế độ ăn, luyện tập và dùng các thuốc điều trị đái tháo đường tổng hợp mà không hiệu quả
  • Phản ứng phụ của Insulin: Dị ứng (sau khi tiêm lần đầu hoặc nhiều lần tiêm), hạ Glucose máu (thường gặp khi tiêm quá liều), Phản ứng tại chỗ tiêm (ngứa, đau, cứng vùng tiêm).Do gây rối loạn chuyển hóa mỡ tại vùng tiêm, tăng sinh mỡ dễ gây u mỡ, giảm sẽ gây xơ cứng (khó tiêm, đau)
Thuốc dùng cho dạng typ2
Các dẫn xuất của Sulfonyl ure, chia làm 02 nhóm:
  • Nhóm 1: có tác dụng yếu, gồm - Tolbutamid, Acetohexamid, Tolazamid, Clopropamid
  • Nhóm 2: có tác dụng mạnh hơn, gồm - Glibenclamid, Glipizid, Gliclazid
Ngoài ra có thể sử dụng sản phẩm Tainsulin với chiết suất từ cây Dây Thìa Canh - Đề tài Nghiên cứu cấp Bộ của Tiến sỹ Trần Văn Ơn, chủ nhiệm bộ môn Thực vật trường ĐH Dược Hà Nội để phòng và hỗ trợ trong việc điều trị Đái Tháo Đường Các nhóm trên có tác dụng hạ đường huyết do ngăn cản tế bào tuyến tụy tạo ra Glucagon và kích thích tế bào Beta ở tuy tiết ra Insulin
  • Phản ứng phụ khi dùng: hạ Glucose máu, dị ứng, rối loạn tiêu hóa, tan máu, mất bạch cầu hạt.

Thứ Bảy, 12 tháng 11, 2011

 15 căn bệnh nguy hiểm nhất

Dưới đây là một số bệnh nguy hiểm thường gặp trong môi trường sống hàng ngày. Bạn có thể tham khảo để thay đổi lối sống, cách sinh hoạt nhằm kịp thời ngăn chặn và xử lý.

1. HIV/AIDS
Khi mắc bệnh, hệ miễn dịch người bệnh suy giảm rất nhanh. Bệnh chưa có thuốc trị nên trước mắt, cách tốt nhất là phòng ngừa; sống lành mạnh, tránh xa ma túy. Khi thấy "chỗ kín" có dấu hiệu khác lạ, phải đi kiểm tra. Nếu nghi nhiễm HIV, hãy làm xét nghiệm máu ngay.

2. SARS
SARS lây qua đường hô hấp, do virus phát tán trong khí. Hiện nay, các nhà khoa học vẫn đang nghiên cứu để tìm ra thuốc và vắc-xin phòng và chữa bệnh.
Khi vào mùa dịch, tránh đến các khu vực bị ảnh hưởng, mang khẩu trang khi tiếp xúc với bệnh nhân, rửa tay sau khi hắt hơi, vệ sinh nơi ở...

3. H5N1
Cũng như SARS, dịch cúm gia cầm H5N1 hiện đang là mối hiểm họa đối với nhiều nước, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á.
Theo các cơ quan chức năng, chưa thấy dấu hiệu virus H5N1 lây truyền sang người. Tuy nhiên, các trường hợp nhiễm bệnh đều có liên quan đến việc trực tiếp giết mổ và sử dụng gia cầm mắc bệnh. Do đó, mọi người hãy cẩn thận!

4. Viêm gan
Viêm gan siêu vi do nhiều chủng virus gây ra, nhưng thường gặp nhất là viêm gan siêu vi A, B, C.
Trong đó, viêm gan siêu A lây truyền qua đường tiêu hóa. Chủng virus gây viêm gan siêu vi B, C lây truyền chủ yếu qua đường máu, quan hệ tình dục và mẹ truyền sang con.
Điều trị viêm gan siêu vi chủ yếu bằng cách tăng cường sức khỏe và tính đề kháng của cơ thể qua chế độ ăn uống. Ngoài ra, có thể tiêm ngừa vắc-xin viêm gan B.

5. Tiểu đường
Đây là bệnh tiềm ẩn, lúc được chẩn đoán, bệnh thường đã có biến chứng. Nguyên nhân do đường trong máu cao, giảm tiết insulin hoặc insulin hoạt động không hiệu quả. Hiện nay, bệnh đái tháo đường tuýp 2 chiếm tỷ lệ khá cao.
Theo các chuyên gia y tế, nếu được phát hiện sớm, 20-40% bệnh nhân có thể điều trị tốt bằng chế độ ăn uống và tập thể dục.

6. Tim mạch
Từ xưa đến nay, các bệnh về tim mạch vẫn là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Trong đó, thường gặp nhất là cao huyết áp và bệnh mạch vành.
Nguyên nhân gây ra các bệnh về tim mạch là do ăn quá mặn, dùng nhiều mỡ động vật, thường xuyên uống rượu, hút thuốc lá, lười vận động. Một số tác nhân khác hình thành từ lối sống như: căng thẳng quá mức, suy nhược cơ thể cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

7. Ung thư vú
Trong các triệu chứng ung thư, ung thư vú là căn bệnh phổ biến và là mối đe dọa gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ.
Nếu như ở thập niên 60, 1 trong 20 người được chẩn đoán là mắc bệnh ung thư vú, thì hiện nay, con số này giảm còn 1 trong 10 người. Nếu phát hiện bệnh sớm, ung thư vú có thể chữa khỏi đến 99%. Do đó, bạn nên tự kiểm tra, chụp nhũ ảnh và khám vú định kỳ để sớm phát hiện bệnh.

8. Các bệnh STD
STD là các bệnh lây qua đường tình dục. Trong đó, nguy hiểm nhất là bệnh mụn giộp sinh dục. Chúng không có triệu chứng lâm sàng rõ ràng nên khi xuất hiện, khả năng tái phát lên đến 85%.
Hiện nay đã có thuốc chữa trị nhưng nguy cơ tái phát vẫn tồn tại suốt đời.

9. Suy thận
Thận có vai trò bài tiết, đào thải chất độc. Khi cả hai quả thận không đảm bảo được chức năng trên sẽ dẫn đến tình trạng bị phù, suy tim, cao huyết áp.
Người mắc bệnh này thường phải chạy thận nhân tạo. Ghép thận có thể kéo dài sự sống cho bệnh nhân.

10. Vàng da
Vàng da là bệnh lý thường gặp ở trẻ sơ sinh, có thể gây suy thận hay các biến chứng về thần kinh, làm giảm sự phát triển trí tuệ của trẻ sau này. Xét nghiệm sàng lọc các trẻ mới sinh nhằm phát hiện sớm các thiếu hụt về gen và men G6PD để có biện pháp dự phòng và điều trị kịp thời.

11. Ung thư phổi
Đây là một trong những bệnh lý ác tính, thường gặp nhất ở nam giới. Tỷ lệ tử vong cao do không phát hiện và chẩn đoán sớm. Hút thuốc lá được xem là nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh ung thư phổi. Ngoài ra, việc nấu nướng trong nhà bằng than đá cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

12. Béo phì
Béo phì là nguồn gốc của nhiều loại bệnh như: đái tháo đường, tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, sỏi thận... khiến chất lượng cuộc sống và tuổi thọ suy giảm nghiêm trọng.
Để phòng chống béo phì, hãy thường xuyên theo dõi cân nặng, giữ cơ thể có mức bình thường, chỉ ăn khi thật sự đói.

13. Sốt xuất huyết
Lây truyền chủ yếu qua muỗi. Sốt xuất huyết thường gặp ở trẻ em từ 4 đến 8 tuổi. Tuy nhiên, người lớn cũng có thể mắc bệnh này. Bệnh thường xuất hiện theo chu kỳ, khoảng từ 3 đến 5 năm/lần. Muốn dập tắt dịch phải thường xuyên vệ sinh môi trường sống, tiêu diệt muỗi.

14. Viêm não
Bệnh thường để lại các di chứng trầm trọng và có tỷ lệ tử vong cao, có thể bùng phát thành dịch, do virus lây truyền chủ yếu qua đường muỗi Culex. Để phòng bệnh, khi ngủ phải nằm màn, trẻ cần được tiêm ngừa vắc-xin.

15. Rubella
Biểu hiện chính thường là sốt phát ban, nổi hạch và đau khớp. Bệnh có thể gây nguy hiểm cho bà mẹ mang thai ở 3 tháng đầu. Hiện nay chưa có thuốc đặc hiệu điều trị Rubella nên phòng ngừa vẫn là cách tối ưu.

Thứ Sáu, 7 tháng 10, 2011

Ăn sáng đúng Nguyên Tắc!

Bữa sáng là ăn cho mình, nhưng không phải cứ ăn thật nhiều, thật bổ hay ăn lúc nào cũng được. Bởi vì có những lý do của nó:

Dậy sớm, ăn sáng ngay
Ăn sáng đúng - Sức khẻo cộng đồng -

Đây là thói quen của không ít người. Dậy từ 5-6 giờ sáng và ngồi ngay vào bàn ăn. Họ làm vậy vì nghĩ bổ sung nhu cầu dinh dưỡng cho cơ thể sau một đêm dài, có lợi cho việc hấp thụ dinh dưỡng. Nhưng trên thực tế, ăn sáng quá sớm không có lợi đối với sức khỏe mà còn gây tổn thương dạ dày.

Trong quá trình ngủ đêm tương đối dài, đại bộ phận các cơ quan trong cơ thể đều được nghỉ ngơi, nhưng cơ quan tiêu hóa vì cần phải tiêu hóa và hấp thụ thức ăn bữa tối, nên thông thường đến sáng sớm mới được ở vào trạng thái nghỉ ngơi chính thức. Ăn sáng quá sớm ảnh hưởng trực tiếp đến việc nghỉ ngơi của dạ dày. Liên tục trong một thời gian dài sẽ tổn hại đến công năng dạ dày.

Lời khuyên: Tốt nhất sau khi ngủ dậy, bạn uống một cốc nước lọc để bổ sung lượng nước bị tiêu hao trong thời gian ngủ. Vận động, làm việc nhà từ 20-30 phút rồi mới ăn sáng là thích hợp nhất.

Bữa sáng ăn quá nhiều dinh dưỡng

Vào buổi sáng sớm, nếu ăn quá nhiều dinh dưỡng sẽ vượt quá khả năng tiêu hóa của dạ dày, thức ăn không được hấp thụ hết, lâu dần, giảm thấp công năng tiêu hóa, dẫn đến các bệnh về tiêu hóa, béo phì.

Lời khuyên: Bữa sáng nên ăn theo nguyên tắc cân bằng dinh dưỡng, chọn thức ăn dễ tiêu hóa, nhiều chất xơ, thức ăn ít mỡ, ít đường như cháo, sữa bò, sữa đậu nành, mỳ... không nên ăn đồ nhiều dầu mỡ, chiên rán, thức ăn có tính kích thích mạnh và không nên ăn quá no.
"Sức khỏe cộng đồng - 365"

Thứ Ba, 10 tháng 5, 2011

Thời khóa biểu cho sức khỏe

Những thói quen sinh hoạt hằng ngày ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe. Dưới đây là những thời điểm tốt nhất cho từng thói quen hằng ngày giúp bảo vệ sức khoẻ

1.Đánh răng
3 phút sau bữa ăn là thời gian tốt nhất bạn nên đánh răng và súc miệng. Bởi đây là quãng thời gian các vi khuẩn trong khoang miệng bắt đầu phân giải các thức ăn còn bám lại trên răng. Các axit sinh ra trong quá trình này khiến răng bạn dễ bị tổn thương, và làm yếu men răng.

2. Uống trà
Tốt nhất bạn nên uống trà 1 giờ sau bữa ăn. Uống trà ngay sau bữa ăn không khoa học. Do axit tannic trong lá trà có thể kết hợp với các chất sắt, can-xi có trong đồ ăn tạo thành muối sắt, muối can-xi không hoà tan, gây ảnh hưởng đến quá trình hấp thụ sắt và can-xi của cơ thể. 

3. Uống sữa
Do sữa có giàu chất can-xi, uống sữa trước khi ngủ có thể giúp bổ sung lượng can-xi trong máu, tránh tình trạng cơ thể bị thiếu hụt can-xi về đêm, giúp bảo vệ hệ xương. Đồng thời, sữa cũng có tác dụng giúp bạn ngủ ngon.
  
4. Ăn hoa quả
Tốt nhất nên ăn hoa quả trước bữa ăn 1 tiếng. Do hoa quả là thực phẩm sống, ăn thực phẩm sống trước thực phẩm chín khiến các tế bào bạch cầu không thể gia tăng, có tác dụng bảo vệ hệ miễn dịch của cơ thể.
5. Tắm nắng





Buổi sáng từ 8-10 giờ, buổi chiều từ 4-7 giờ là quãng thời gian tốt nhất để bạn tắm nắng. Trong quãng thời gian này, ánh sáng mặt trời chủ yếu là các tia tử ngoại có ích, khiến cơ thể sản sinh ra vitamin D. Từ đó tăng cường hệ thống miễn dịch, giảm tỉ lệ mắc bệnh loãng xương, xơ cứng động mạch…
6. Làm đẹp
Quá trình trao đổi chất của da mạnh nhất từ 12 giờ đêm hôm trước đến 6 giờ sáng ngày hôm sau. Do vậy, sử dụng các sản phẩm dưỡng da làm đẹp trước khi đi ngủ không chỉ thúc đẩy quá trình trao đổi chất, mà còn giúp bảo vệ làn da, mang lại hiệu quả làm đẹp tốt nhất.
7. Đi dạo
Bạn nên đi dạo sau bữa ăn 45-60 phút với tốc độ 4,8km/giờ liên tục trong 20 phút. Nhiệt lượng tiêu hao càng nhiều sẽ càng có lợi cho việc giảm béo. Nếu bạn đi bộ sau bữa ăn 2 giờ, hiệu quả sẽ càng cao.

8. Tắm
Mỗi ngày trước khi đi ngủ, tắm nước ấm (35-45 độ C) giúp thúc đẩy quá trình tuần hoàn máu, thả lỏng các hệ cơ khớp, khiến bạn ngủ ngon hơn.

9. Ngủ

Tốt nhất bạn nên ngủ trưa lúc 13 giờ. Đây là thời điểm cảm giác cơ thể chùng xuống, rất dễ đi vào giấc ngủ. Buổi tối bạn nên lên giường trước 22-23 giờ. Do cơ thể đi vào giấc ngủ sâu nhất từ 24 giờ đến 3 giờ sáng hôm sau, mà con người thường chỉ đạt được trạng thái ngủ sâu sau khi đi ngủ 1 tiếng rưỡi.

10. Vận động

Vận động vào lúc chiều tối rất hữu ích. Khả năng thích ứng và phát huy thể lực của cơ thể tốt nhất vào buổi chiều hoặc lúc gần hoàng hôn. Thời điểm này, các giác quan của con người như vị giác, thính giác, thị giác… ở trạng thái nhạy cảm nhất. Khả năng liên kết vận động của toàn cơ thể cũng mạnh nhất. Đặc biệt nhịp tim và huyết áp đều bình ổn, rất thích hợp cho việc rèn luyện thân thể.

123baomoi